Vi khuẩn lao
(Mycobacterium tuberculosis)
Vi khuẩn lao được Robert Koch người Đức tìm ra 1882, cho nên nó được mang tên ông Bacille de Koch (BK).
I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1. Hình thể - bắt màu
Vi khuẩn lao hình trực, thân mảnh 2 đầu nhọn, dài 3 - 5µm. Vi khuẩn không có lông, nha bào và vỏ.
-Bắt màu đỏ theo phương pháp nhuộm Jiehl – Neelsen, trên thân có nhiều hạt siêu sắc (hạt Much). Thướng sắp xếp thành từng đám, hoặc riêng rẽ. Nếu vi khuẩn kháng thuốc thì hình thể nhỏ và nát, bắt màu nhạt hơn.
2. Cấu tạo
Vi khuẩn có cấu tạo như tế bào khác. Nhưng đặc biệt nó có nhiều chất sáp, acid béo ở trong tế bào và vách. Lớp chất sáp này có tác dụng làm cho vi khuẩn khó thấm nước hơn và kháng alcol – acid.
3. Nuôi cấy
-Vi khuẩn thuộc loại hiếu khí, khó nuôi cấy, đòi hỏi môi trường nhiều chất dinh dưỡng, có oxy (không phát triển ở môi trường kỵ khí). Vi khuẩn phát triển chậm 1-2 tháng với nhiệt độ thích hợp 37° C, pH = 6,7-7.
-Môi trường đặc: Có nhiều loại như Dubos, OgaWa 7 H10 V V, Nhưng hay nuôi cấy vào môi trường: Loeweistein sau 1-2 tháng tạo khuẩn lạc dạng R khô xù sì, hình súp lơ màu trắng ngà, đường kính d = 1mm.
-Môi trường lỏng Sauton sau 1-2 tháng tạo nêiuváng khô nhăn nheo ở trên mặt môi trường.
4. Sức đề kháng
Vi khuẩn có sức đề kháng tương đối mạnh với các nhân tố lý hoá học.
-Ở bệnh phẩm đờm tồn tại nhiều ngày, nếu ở nơi tối ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn sống và còn độc lực, ở trong thực phẩm sữa sống được nhiều tuần.
-Ở nhiệt độ 42°C: Vi khuẩn ngừng phát triển nếu ở nhiệt độ 80°C/10 phút: vi khuẩn bị chết.
-Cồn 90° С tồn tại được 3 phút, acid phenic 5% sau 1 phút bị tiêu diệt.
-Vi khuẩn kháng với nhiều loại thuốc chống lao và ngày càng tăng lên.
5. Phân loại
|
Các loại vi khuẩn lao gây bệnh có 3 loại chính được phân biệt bằng các tính chất sau:
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
6. Các tính chất sinh vật hoá học
Vi khuẩn lao có hệ thống enzym đầy đủ để chuyển hoá các chất và đồng thời để phân biệt với các vi khuẩn kháng cồn và acid khác.
-Có enzym urease, ở nhiệt độ 22°C có enzym catalase.
-Tổng hợp acid nicotinic
-Khử nitrat thành nitrit
-Kháng lại alcol - acid ở một nồng độ nhất định; đặc biệt acid Thiophen 2 Carboxylic Hydracide.
II.KHẢ NĂNG GÂY BỆNH
1. Gây bệnh cho người
1.1. Dịch tễ học
Bệnh lao là một bệnh xã hội đã được nói đến từ thời thượng cổ (khoảng 5000 trước công nguyên). Đến thời kỳ Hypocrat được mô tả rõ ràng hơn. Vào thế kỷ 18 người ta biết được bệnh lao lây lan theo đường hô hấp, cho nên đã đề ra phương pháp phòng tránh. Sau khi Robert Koch tìm ra vi khuẩn và các nhà khoa học đã chế các thuốc điều trị và phương pháp phòng bệnh đặc hiệu thì bệnh lao đã được khống chế và giảm hẳn vào đầu và giữa thế kỷ 20. Đến những năm 90 của thế kỷ qua thì bệnh lao lại trở thành vấn đề của toàn cầu. Tỷ lệ nhiễm, mắc lao và tử vong càng ngày càng tăng. Ví dụ năm 1990 có 1/3 dân số thế giới bị nhiễm lao, 8,8 triệu người bị lao. Đại đa số ở các nước chậm phát triển (Châu Phi và châu Á) và đặc biệt có liên quan chặt chẽ với đại dịch HIV/AIDS.
-Bệnh lao lây lan chủ yếu theo đường hô hấp (chiếm 90%), ngoài ra còn lây theo đường tiêu hoá (10%) do uống sữa bò tươi có vi khuẩn lao bò.
Khi người bị bệnh lao phổi, trong thời kỳ lây nhiễm có khoảng 5000 vi khuẩn/lml đờm. Khi ho hắt hơi ra những hạt đờm có kích thước khác nhau. Những hạt lớn bốc hơi, còn những hạt nhỏ lơ lửng trong không khí xung quanh người đó khoảng 2 mét. Nếu người bình thường hít phải hạt đờm có vi khuẩn sẽ bị lây.
-Nguồn truyền nhiễm cua bệnh lao là người bệnh, chủ yếu người lớn và trẻ em trên 15 tuổi. Trẻ em nhỏ chỉ có dưới 5% mang vi khuẩn lao ở đờm vì khi bị lao, trẻ em thường nuốt đờm cho nên không là nguồn truyền nhiễm.
1.2. Cơ chế gây bệnh
Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể theo đường hô hấp hoặc tiêu hoá. Từ phổi hoặc ruột theo hệ bạch huyết, đường máu đến các cơ quan và gây lao ở đó. Tổn thương lao có thể gặp bất kỳ bộ phận nào.
1.3. Lâm sàng
Bệnh lao có quá trình diến biến theo hai giai đoạn.
-Giai đoạn lao nhiễm chiếm chủ yếu 85 - 90% không có triệu chứng lâm sàng.
-Giai đoạn lao bệnh: Thứ phát sau giai đoạn trên, tỷ lệ 10 - 15% chung cho mọi lứa tuổi.
Sự chuyển từ lao nhiễm sang lao bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Số lượng và độc lực của vi khuẩn, tuổi và sức đề kháng của người bệnh. Hiện nay người nhiễm HIV là người có tỷ lệ bị nhiễm chuyển sang bệnh lao là rất cao. Bệnh lao có thể gặp ở mọi cơ quan: Lách, hạch, xương, khớp, các màng v.v...
Đặc biệt hay gặp ở phổi nhất (69 - 75%) tuỳ theo thông báo của từng nước.
-Triệu chứng của bệnh lao có dấu hiệu chung là:
+Sốt nhẹ về buổi chiều
+Kém ăn
+Sút cân
Tuỳ theo vị trí tổn thương mà có các triệu chứng khác nhau (bài giảng lao)
2. Gây bệnh thực nghiệm
+ Chuột lang là súc vật cảm nhiễm nhất với vi khuẩn lao. Dùng con chuột lang nặng 300 g khoẻ, phản ứng Mantoux âm tính. Tiến hành tiêm lml bệnh phẩm đã được xử lý (xử lý bằng dung dịch acid với nồng độ nhất định) vào màng bụng hoặc dưới da đùi sau của chuột. Theo dõi chuột 6-8 tuần về triệu chứng: Ăn kém, sốt, sút cân. Tại chỗ tiêm sau 15 ngày có quầng đỏ cứng, bờ rõ, dần loét, bã đậu. Toàn thân bị nhiễm lao: Gan, lách, hạch, phổi v.v... có nhiều nốt hoại tử bã đậu. Xét nghiệm chất bã đậu có nhiều vi khuẩn lao.
+ Cần chú ý phân biệt với giả lao (Pasteurella pseudotuberculois) vi khuẩn này gây tổn thương không phải chất bã đậu hoá mà là các ổ áp xe nhỏ, xét nghiệm mủ đó là những cầu trực khuẩn.
III. MIỄN DỊCH VÀ DỊ ỨNG LAO
Sau khi người bị bệnh, hoặc nhiễm lao, cơ thể sẽ xuất hiện 2 loại phản ứng:
-Phản ứng dị ứng lao (quá mẫn muộn)
-Phản ứng chống lại vi khuẩn lao (miễn dịch lao)
Để có kết luận trên người ta đã đúc rút từ các thực nghiệm và thực tế.
1. Thí nghiệm của R.Koch (1891)
+ Thí nghiệm 1: Ông tiến hành tiêm vi khuẩn lao bò có độc lực cho chuột lang khoẻ mạnh, không bị nhiễm lao. Sau 15 ngày ông thấy tại chỗ tiêm có quầng đỏ cứng, rồi loét bã đậu. Toàn thân bị nhiễm lao, chuột chết.
+ Thí nghiệm 2: Ông cũng tiêm vi khuẩn lao có độc lực cho chuột lang khoẻ nhưng đã cảm nhiễm lao. Sau 48 - 72 giờ ông thấy tại chỗ có quầng đỏ cứng dần loét bã đậu. Nhưng toàn thân không bị nhiễm lao và chuột không chết.
Như vậy nếu ta gây cảm nhiễm lao cho chuột trước, thì có thể có kháng thể dị ứng (tạo quầng đỏ cứng) và kháng thể chống lại vi khuẩn lao nên không bị bệnh.
2. Thực tế lâm sàng
-Tỷ lệ người nhiễm lao rất cao 85 - 90%
-Tỷ lệ người bị lao thấp: 10-15%
-Người đã cảm nhiễm với vi khuẩn lao (có phản ứng dị ứng dương tính), thường không hoặc ít bị bệnh, tức là đã có miễn dịch chống lao.
3. Dị ứng lao
+ Sau khi người bị nhiễm lao lần đầu tiên thì cơ thể hình thành phản ứng dị ứng lao sau 15 ngày đó là miễn dịch dị ứng chống lại protein của vi khuẩn lao.
+ Lần sau khi vi khuẩn xâm nhập hoặc ta đưa kháng nguyên lao vào thì sẽ xảy ra phản ứng dị ứng lao: Xuất hiện một nốt quầng đỏ cứng, bờ rõ sau 72 giờ. Quầng đỏ cứng là do thâm nhiễm lympho T mẫn cảm và đại thực bào.
+ Để phát hiện hiện tượng dị ứng ta dùng phản ứng dị ứng. Kháng nguyên để làm phản ứng là tuberculin. Tuberculin là sản phẩm chuyển hoá của vi khuẩn lao do R.Koch bào chế ra (1891) khi ông nuôi cấy vi khuẩn lao vào môi trường lỏng.
Bản chất của tuberculin là protein, gluxid, lipid. Nó không độc cho cơ thể, nhưng không gây được miễn dịch.
Các phương pháp làm phản ứng có nhiều loại:
-Chủng đậu của Von Pirquel (1907)
-Châm kim của Heaf
-Cao dán của Moro
-Ngày nay thường làm phổ biến phương pháp của Mantoux (1908): tiêm lml tubereulin vào trong da mặt trước cẳng tay. Sau 72 giờ đọc kết quả. Nếu tại nơi tiêm có quầng cứng, bờ rõ với đường kính d> 10mm là dương tính. Phản ứng này có giá trị chẩn đoán với lao sơ nhiễm, chỉ có tác dụng tham khảo với lao ở người lớn, trẻ lớn.
4. Miễn dịch lao
Sau khi nhiễm lao, bị bệnh cơ thể có miễn dịch: Dịch thể và tế bào.
Miễn dịch dịch thể không có vai trò chống lại vi khuẩn , mà chủ yếu là do kháng thể tế bào: Vai trò của đại thực bào và lympho bào T.
-Miễn dịch hình thành sau dị ứng lao.
-Miễn dịch này là miễn dịch hữu khuẩn có mặt trực tiếp vi khuẩn lao.
-Miễn dịch và dị ứng lao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Người có phản ứng dị ứng dương tính thì có miễn dịch lao và ngược lại. Cho nên muốn phát hiện người đã có miễn dịch lao, người ta cũng dùng phản ứng dị ứng lao.
IV. CHẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM
Có nhiều kỹ thuật được chia 2 loại
1. Kỹ thuật cổ điển
1.1. Nhuộm Jiehl - Neelsen
-Kỹ thuật này được tìm ra năm 1883 và đến nay vẫn được áp dụng rộng rãi.
-Bệnh phẩm để nhuộm soi có thể là đờm, dịch dạ dày, dịch hút khi soi phế quản, dịch não tuỷ, dịch màng phổi vv... Riêng bệnh phẩm đờm tìm thấy vi khuẩn lao khi mà trong lml đờm có 5000 vi khuẩn, cho nên khi lấy đơm ta nên lấy 3 mẫu vào buổi sáng sớm.
-Phương pháp này chỉ nói lên có hình thể vi khuẩn kháng cồn toan.
1.2. Nuôi cấy
- Bệnh phẩm trước khi nuôi cấy phải sử lý bằng NaOH 4%.
-Thường hay nuôi cấy vào môi trường đặc Loeweinstein. Sau 6-8 tuần mới có kết quả.
-Phương pháp này cho kết quả chính xác nhưng lâu, phức tạp, đắt tiền nên chỉ áp dụng ở một số phòng xét nghiệm trung ương và một số tỉnh.
1.3. Gây bệnh thực nghiệm
Cũng như nuôi cấy, phương pháp này cho kết quả chính xác nhưng không thuận lợi về nhiều mặt.
1.4. Phản ứng dị ứng
-Kết quả dương tính có giá trị trong chẩn đoán lao sơ nhiễm.
-Các trường hợp lao khác có tính chất tham khảo khi mà phản ứng dương tính.
-Phản ứng này còn có giá trị theo dõi hiệu quả của vacxin phòng lao.
2. Một số kỹ thuật mới
2.1. Kỹ thuật cấy nhanh: Có hai loại
+ Kỹ thuật dùng đồng vị phóng xạ
14C: ВАСTЕС - 460 ТВ System
Chẩn đoán nhanh chóng khuẩn lạc trong vòng 1-2 tuần. Nguyên tắc của kỹ thuật dựa vào quá trình chuyển hoá xẩy ra nhanh hơn sự sinh trưởng trên môi trường. Khi hợp chất đồng vị phóng xạ 14C đánh dấu cho vào môi trường, nó chuyển hoá và sinh ra 14 C02, đo được bằng máy BACTEC 460 và định theo giá trị chỉ số tăng trưởng.
+ Kỹ thuật MGIT (Mycobacterium - Growth - Indicator - Tube)
Kết quả dương tính 6-10 ngày môi trường MGIT là môi trường canh thang Middle Brook 7H9 được làm giàu chất dinh dưỡng bởi OADC (acid Olein, Albumin, Dextrose, Catalase), chống bội nhiễm bởi hỗn hợp kháng sinh PANTA (Polymicin B, Amphotericin B, Nalidixic acid, Trimethoprim, Azolocillin), tạo ra môi trường thích hợp cho Mycobacteriae phát triển nhanh chóng. Đồng thời để phát hiện vi khuẩn mọc sớm nhờ hệ thống phát quang cảm ứng., với. oxy gắn ở vòng quanh đáy MGIT (tris 4-7- diphenyl 1-10. Phenanthroline Rutherium chloride Pentalydrate). Kết quả được đọc bằng chiếu tia cực tím uv, MGIT dương tính sẽ phát quang vàng da cam.
2.2. Kỹ thuật miễn dịch
Dùng kỹ thuật miễn địch để phát hiện kháng nguyên của vi khuẩn lao:
Miễn dịch phóng xạ (Hewitt và Coates 1982)
Miễn dịch ELISA
2.3. Kỹ thuật sinh học phân tử PCR
(Polymerase Chain Reaction)
Kỹ thuật này cho phát hiện ngay khi ở 1 ml đờm có 3 - 10 vi khuẩn
2.4. Kỹ thuật dấu vân tay
(Finger Printing)
Đây là kỹ thuật sinh học phân tử ADN
V. PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ
1. Phòng bệnh
1.1. Phòng bệnh chung
Lao là bệnh xã hội, đây là vấn đề của toàn cầu, việc phòng chống lao là của toàn thế giới, cả xã hội.
-Thế giới lấy ngày 24/3 hàng năm là ngày phòng chống lao.
-Tổ chức màng lưới phòng chống lao từ trung ương đến địa phương.
-Quản lý, phát hiện bệnh nhân lao cũ và lao mới.
-Tuyên truyền về bệnh lao trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người hiểu biết, phòng tránh lây lan.
1.2. Phòng đặc hiệu
-Năm 1921 Calmette và Guerin đã nghiên cứu và chế thành công vacxin. Hai ông đã dùng lao bò có độc lực nuôi cấy trên môi trường nhân tạo 230 lần/13năm, làm cho vi khuẩn mất độc lực, để sản xuất vacxin. Vacxin được gọi BCG (Bacille de Calmette - Guerin). Vacxin này thuộc loại vacxin sống. Ở Việt Nam năm 1962 cố Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch đã sản xuất vacxin chết. Bằng cách dùng BCG điều nhiệt 43°C/l tháng, vi khuẩn chết nhưng vẫn còn tính kháng nguyên. Tuy vậy khả năng gây miễn dịch của nó không tốt bằng vacxin BCG.
-Hiện nay ta vẫn dùng rộng rãi vacxin BCG sống cho trẻ em trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Còn trẻ lớn và người lớn dùng vacxin khi có phản ứng Mantoux âm tính.
2. Điều trị
-Đến nay vi khuẩn lao là một trong những vi khuẩn kháng thuốc mạnh. Ở Việt nam tỷ lệ kháng thuốc chung vào năm 1992 (Lê Ngọc Vân - Viện lao trung ương) là 38,10%. Kháng một loại thuốc kháng sinh là nhiều nhất, trong đó kháng cao nhất là isoniazid, sau là streptomycin, ethambutol, tiếp là rifampixin, kháng ít nhất là PAS. Kháng lại 2, 3 loại thuốc ít gặp hơn và kháng trên 3 thuốc kháng sinh rất ít gặp.
-Khi điều trị lao là phải phối hợp kháng sinh: 4 kháng sinh và có thể 5 kháng sinh với nhau. Nếu trường hợp kháng thuốc gửi bệnh phẩm lên trung ương làm kháng sinh đồ.
-Bệnh lao diễn biến mãn tính vì thế điều trị lâu dài theo phác đồ
-Các thuốc kháng sinh hiện nay dùng là:
+Isoniazid viết tắt (H)
+Streptomycin (S)
+Rifampixin (R)
+Ethambutol (E)
+Pyrazinamid (Z)
+Thio - acetazone (TBI)
Phạm Quyết Chiến @ 15:38 27/04/2012
Số lượt xem: 11550
- TRỰC KHUẨN MỦ XANH (27/04/12)
- Các Loại Môi Trường Nuôi Cấy Vi Khuẩn (01/03/12)
1. Đặc điểm nguồn gốc và tên gọi của vi khuẩn lao
Lao là một trong những bệnh được biết từ lâu đời nhất ảnh hưởng đến con người. Mặc dù M. tuberculosis ước tính đã tồn tại 15,300 - 20,400 năm, nhưng căn cứ vào tính đa dạng nucleotide hiến khi mất và khả năng đột biến, người ta thừa nhận chúng là loài tiến triển khác đi rất nhiều từ dạng nguyên thuỷ nhưng vẫn thuộc giống (genus) Mycobacterium. Đa số vi sinh vật thuộc giống tự nhiên này sống trong đất và nước, tại thời điểm nào đó dưới áp lực của môi trường, một vài loài trong chúng nổi trội lên và xuất hiện ở động vật, trong đó có M. bovis. Tiến hoá tiếp theo của Mycobacterium là người bị nhiễm M. bovis, chúng xuất hiện cùng với việc thuần hoá động vật có móng sừng (như loài bò) kết hợp với tập tục di cư của người dân. Ở thời điểm này, M. tuberculosis gây bệnh cho người. Trong khoảng 100 - 150 năm gần đây M. tuberculosis đã dần phát triển trong hầu hết các khu vực trên trái đất.
M. tuberculosis complex:
Nguyên nhân chính gây bệnh lao ở người chủ yếu là loài M. tuberculosis, (gọi tắt BK-Koch bacillus), được Rober Koch phân lập năm 1882. Đây là loài đại diện của giống Mycobacterium. Tên tubercle bacillus được đặt cho 2 loài: M. tuberculosis và M. bovis. Chúng khác hẳn với các loài mycobacteria khác do có tính kháng acide mạnh nhất sau khi nhuộm mầu. Tên gọi M. tubercle và M. tuberculosis là các cách gọi đặc biệt nhưng thực ra chúng đồng nghĩa. M. tuberculosis complex bao gồm 5 loài: (1) M. tuberculosis là mầm gây bệnh cho người hay gặp nhất, do Zopf 1883; Lehmann và Neumann 1896 đặt tên; (2) M. bovis có thể lây truyền bệnh từ bò sang người do sử dụng sữa bò mắc lao chưa tiệt khuẩn. Nó cũng có thể lây truyền từ người bệnh sang người lành; (3) M. microti phân lập từ chuột đồng (Microtus agrestis) bởi Wells (1937) và được Reed (1959) đặt danh pháp, có độc lực rất thấp đối với chuột lang và người; (4) M. africanum là một loài được cho là trung gian giữa M. tuberculosis và M. bovis, thỉnh thoảng xuất hiện ở Châu Phi và thường có kháng tự nhiên với thioacetazone; (5) M. canettii là một loài mới được bổ xung vào từ năm 1997, chúng gây bệnh ở chuột đồng, chuột trù và chuột rừng. Các loài lao trên có tên chung là tuberculous mycobacteria và được gọi là “tuberculosis complex”, bởi vì trong genom của chúng cùng có chung một hay nhiều đoạn gen IS 6110 đặc thù mà các loài vi khuẩn lao khác không có. Đây là nhóm gây bệnh quan trọng nhất trong giống Mycobacterium.
Vi khuẩn lao do Robert Koch phát hiện (1882), vì vậy còn được gọi là Bacilie de Koch (viết tắt là BK). Ngày nay, căn cứ vào đặc điểm kháng acid, người ta gọi chúng là vi khuẩn kháng cồn toan, viết tắt là AFB (Acid fast Bacilli). Trên tiêu bản nhuộm Ziehl – Neelsen, vi khuẩn lao không bị cồn và axit làm mất màu đỏ của fucsin.
2. Hình thể, cấu tạo và kích thước
2.1. hình thể và kích thước
Vi khuẩn lao nhìn thấy trên vi trường bắt mầu đỏ trên nền hơi xanh của tiêu bản không có lông, hai đầu tròn, thân có hạt, hình que cong, nhỏ, đứng thành từng đám, hay từng đôi song song hay hình chữ V hay riêng rẽ. Chúng có chiều dài từ 3 đến 5
m, rộng 0,3 – 0,5
m,
Hình ảnh vi khuẩn lao chụp qua kính hiển vi điện tử
2.2. Cấu tạo vách tế bào của vi khuẩn lao
Hình ảnh vách tế bào vi khuẩn lao
(1). Lớp lipid bên ngoài
(2). Lớp acide mycolic
(3). Lớp polysacharide (arabinogalactan)
(4). Lớp peptidoglycan
(5). Lớp màng plasma
(6). Lớp lipoarabinomannan (LAM)
(7). Lớp phosphatidylinositol mannoside
(8). Lớp khung vách tế bào
Cấu trúc vách tế bào và acide mycolic đem lại nhiều chức năng cho vi khuẩn lao, giúp vi khuẩn có sức chịu đựng cao, làm tăng kháng thuốc do làm hư hại các hoá chất, khử nước và ngăn chặn hiệu quả hoạt động của kháng sinh. Nó làm cho vi khuẩn phát triển được bên trong đại thực bào và ẩn tránh hệ thống miễn dịch của chủ thể.
3. Một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao
3.1. Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài
Ở điều kiện tự nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại 3 – 4 tháng. Trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm. Trong đờm của bệnh nhân lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc lực. Dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ. Ở 420C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 800C; với cồn 900 vi khuẩn tồn tại được ba phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chỉ sống được một phút.
3.2. Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí
Khi phát triển vi khuẩn cần đủ oxy, vì vậy giải thích tại sao lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất và số lượng vi khuẩn nhiều nhất trong các hang lao có phế quản thông.
3.3. Vi khuẩn lao sinh sản chậm
Trong điều kiện bình thường, trung bình 20 – 24 giờ/1lần, nhưng có khi hàng tháng, thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu (Persister), khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái triển lại.
3.4. Vi khuẩn lao có nhiều quần thể chuyển hoá khác nhau ở tổn thương
Có những quần thể vi khuẩn phát triển mạnh, nằm ngoài tế bào (Nhóm A ): có những quần thể vi khuẩn phát triển chậm, từng đợt (Nhóm B); có những vi khuẩn nằm trong tế bào (Nhóm C). Những quần thể vi khuẩn này chịu tác dụng khác nhau tuỳ từng thuốc chống lao.
3.5. Các chất liên quan đến tính độc của vi khuẩn lao
Mặc dù đã biết vi khuẩn lao hàng trăm năm, nhưng tính chất gây độc của M. tuberculosis còn nhiều điều chưa được sáng tỏ, chúng không có các độc tố chủ yếu gây bệnh như nhiều vi khuẩn khác. Nhiều chất từ M. tuberculosis đã được chứng minh là tham gia vào độc tính vi khuẩn, nhưng không thật sự có yếu tố nào là chủ yếu hay quyết định.
4. Đặc điểm nhuộm soi kính hiển vi và nuôi cấy vi khuẩn lao
4.1. Đặc điểm nhuộm soi kính vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao rất khó phát hiện bằng các thuốc nhuộm thông thường sử dụng cho các vi khuẩn khác. Với phương pháp nhuộm nóng đặc biệt Ziehl-Neelsen thuốc nhuộm fuchsin mới có thể thấm qua được vách sáp dầy khi bị đốt nóng, lúc đó chúng bắt mầu đỏ fuchsin và chống lại được sự tẩy mầu bởi cồn hay acide nên gọi tên là AFB (acide - fast bacilli). Xét nghiệm này đánh giá được mật độ vi khuẩn nhiều hay ít, tuy nhiên mật độ vi khuẩn trong 1 ml đờm phải có từ 5,000 - 10,000 AFB thì mới nhận định được. Vi khuẩn lao nhìn thấy trên vi trường bắt mầu đỏ trên nền hơi xanh của tiêu bản, hình que cong, nhỏ, đứng thành từng đám, hay từng đôi song song hay hình chữ V hay riêng rẽ. Để thấy được hình ảnh này phải soi bằng vật kính dầu có độ phóng đại 1000. Thời gian để một kỹ thuật viên nhận định kết quả một mẫu đọc ít nhất là 10 - 15 phút. Sự giảm số lượng vi khuẩn có ý nghĩa là điều trị hiệu quả. Kết quả quan sát nhận định theo các mức độ sau:
(...) Không có AFB/100 vi trường
(+) 1 - 9 AFB/100 vi trường. Ghi kết quả số AFB
(++) 10 - 99 AFB/100 vi trường
(+++) 1 - 10 AFB/ 1 vi trường (chỉ cần đọc 50 vi trường)
(++++) > 10 AFB/1 vi trường (chỉ cần đọc 20 vi trường)
4.2. Đặc điểm nuôi cấy của vi khuẩn lao
Nuôi cấy là phương pháp chẩn đoán chính xác để xác định có vi khuẩn lao ở trong đờm của người nghi lao. Đây là một xét nghiệm có độ đặc hiệu rất cao, vì mỗi một vi khuẩn lao sẽ mọc thành một khuẩn lạc dễ quan sát bằng mắt thường. Nuôi cấy phát hiện dễ, sớm trước cả giai đoạn lây và phát hiện tăng hơn 30 - 50% các trường hợp so với phương pháp soi kính. Nuôi cấy rất hữu ích và có hiệu quả trong việc chẩn đoán thất bại khi kết thúc điều trị. Nuôi cấy cũng cung cấp vật liệu cho các thử nghiệm định danh và thực hiện kháng sinh đồ.
Tuỳ thuộc vào phương pháp khử nhiễm khuẩn và loại môi trường nuôi cấy, chỉ cần vài đến 10 vi khuẩn là có thể phát hiện được vi khuẩn lao. Tuy nhiên không thể sử dụng các kỹ thuật nuôi cấy vi khuẩn thông thường để phân lập vi khuẩn lao từ bệnh phẩm lâm sàng, vì vi khuẩn lao có thời gian sản sinh rất chậm (tạo ra thế hệ sau mất 18 - 24 giờ), và cực kỳ chậm in vitro, trong khi những vi khuẩn khác thường có chu kỳ sinh sản khoảng vài phút (ví dụ E.coli chỉ mất 20 phút). Chúng không mọc ở bệnh phẩm cũng như môi trường hoá chất đơn giản. Vi khuẩn lao chỉ nhân lên được ở trong môi trường nuôi cấy đặc biệt chứa đầy đủ đường, đạm, dưỡng khí, các loại muối, các vitamin, pH từ 6,8 đến 7,2 và nhiệt độ từ 370C - 380C. Những vi khuẩn mới phân lập từ bệnh phẩm của bệnh nhân có khả năng tự tổng hợp các chất kém hơn các vi khuẩn đã được nuôi cấy nhiều lần ở phòng xét nghiệm vì những vi khuẩn này đã thích ứng với điều kiện đầy đủ các chất dinh dưỡng trong cơ thể.
Trước khi nuôi cấy bệnh phẩm trên môi trường đặc Lowenstein-Jensen, bệnh phẩm cần phải khử nhiễm khuẩn, ly tâm và trung hoà acide. Những bệnh phẩm vô khuẩn như (mô tổn thương trong khi phẫu thuật, dịch não tuỷ, dịch khớp) thì nên cấy trực tiếp vào môi trường. Các tub nuôi cấy được để trong tủ ấm 37oC thời gian từ 4 - 12 tuần. Khuẩn lạc có thể nhìn thấy rõ ít nhất sau 3 tuần nuôi cấy. Kết quả dương tính khi thấy vi khuẩn lao (bao gồm cả M. tuberculosis) mọc thành khuẩn lạc nổi trên bề mặt môi trường, khuẩn lạc có thể rộng, tròn, nhẵn sau đó sần sùi như hoa súp lơ, màu kem và rất khó tan trong nước. Kết quả âm tính nếu sau 8 tuần nuôi cấy không thấy có khuẩn lạc mọc.
5. Vi khuẩn lao kháng thuốc
5.1. Các định nghĩa kháng thuốc
Kháng thuốc là khả năng sống sót và sinh sản của các chủng vi khuẩn lao sau khi đã tiếp xúc với thuốc ở nồng độ có thể tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn, chúng sinh sản và chuyển tiếp được đặc tính đó cho thế hệ sau.
Theo TCYTTG 1997: kháng thuốc là hiện tượng giảm độ nhạy cảm với thuốc chữa lao in vitro của M. tuberculosis với nồng độ vừa đủ hợp lí của một vài chủng kiểm tra so với chủng hoang dại chưa tiếp xúc với thuốc chữa lao bao giờ.
Bệnh lao kháng thuốc là trường hợp bệnh nhân lao phổi mang vi khuẩn lao kháng với một hoặc nhiều loại thuốc chống lao.
Kháng thuốc tiên phát (primary resistance): là những chủng M. tuberculosiskháng thuốc xuất hiện ở bệnh nhân không có tiền sử điều trị thuốc lao (hoặc thời gian điều trị ít hơn một tháng).
Kháng thuốc mắc phải (acquired resistance): là những chủng M. tuberculosiskháng thuốc xuất hiện ở bệnh nhân có tiền sử đã điều trị thuốc lao với thời gian từ một tháng hoặc hơn.
Kháng đa thuốc (multidrug resistance): Là hiện tượng vi khuẩn lao kháng đồng thời tối thiểu hai thuốc INH và RMP. Đây là 2 thuốc có hiệu lực tiêu diệt vi khuẩn lao mạnh nhất trong số các thuốc chống lao hiện nay.
Kháng đa thuốc mở rộng (Extensively drug resistance - KĐTMR): là các trường hợp BLKĐT có kháng với bất kỳ thuốc fluoroquinolone nào (dạng thuốc tiêm hay uống) và kháng ít nhất một trong 3 thuốc hàng hai có thể tiêm được (capreomycin, kanamycin, và amikacin).
Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn lao
Kháng thuốc có thể là một đặc tính của một loài nguyên vẹn hoặc do đột biến gen mắc phải hoặc do vận chuyển gen. Gen kháng thuốc nằm trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn và di truyền cho thế hệ sau. Hiện nay người ta đã xác định được bản đồ gen và nhiều mã gen kháng thuốc của vi khuẩn lao Gen kháng thuốc mã hoá thông tin từ đó vi sinh vật sử dụng để chống lại hiệu lực ức chế đặc hiệu của kháng sinh theo các cơ chế sau đây.
- Làm giảm tính thấm của màng nguyên tương.
- Làm thay đổi đích tác động.
- Tạo ra các isoenzym không có ái lực với kháng sinh nên bỏ qua tác động của kháng sinh.
- Tạo ra enzym: các enzym do gen đề kháng tạo ra có thể biến đổi hoặc phá huỷ cấu trúc hoá học của phân tử kháng sinh.
Một số gen kháng thuốc:
- Vi khuẩn kháng Rifampicin đột biến ở gien rpo B mã hoá tổng hợp ARN - Polymerase
- Vi khuẩn kháng Isoniazid đột biến ở gien Kat G, Inh A, ahp C.
- Vi khuẩn kháng Streptomycin và các amynoglycozid: đột biến ở gien rrS, rpsL hoặc cả hai gien này.
- Vi khuẩn kháng Pyrazinamid: đột biến ở gien pnc A
TVM xin chào chủ nhà!